Lý thuyết về trí tuệ là gì? Các yếu tố cơ bản của trí tuệ

MỘI SỐ LÝ THUYẾT VỀ TRÍ TUỆ VÀ CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN CỦA TRÍ TUỆ

Lý thuyết về trí tuệ _ nguồn nhân lực

NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI – 58 TAP CHÍ PHAT TRIEN NHAN LƯC, SO 3(24)-2011
https://lamkinhte.com/tai-lieu-tham-khao

Như chúng ta đều biết, vấn đề phân tích, đánh giá đúng đắn các nguồn lực phục vụ cho một chiến lược kinh tế – xã hội thích hợp có vai trò then choát trong việc sử dụng hợp lý các nguồn lực ấy vào sự phát triển đất nước trong quá trình cơng nghiệp hoá, hiện đại hóa hiện nay.

Theo cách phân chia phổ biến, người ta thường chia các nguồn lực cơ bản thành nguồn lực tự nhiên, nguồn lực con người và nguồn lực vốn. Nếu như trước đây, người ta đề cao vai trò của kỹ thuật, cơng nghệ hay của các nguồn lực tự nhiên, thì nay, nguồn lực con người được đề cao hơn cả và nó được coi là yếu tố quyết định tới sự thành cơng của sự nghiệp cơng nghiệp hoá, hiện đại hoá. Bởi lẽ bản thân nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác tự nó không thể tham gia vào các quá trình kinh tế – xã hội, do đó chưa thể trở thành động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội. Chính con người với sức lực và trí tuệ của mình, mới là nhân tố quyết định hiệu quả của việc khai thác nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác.

Theo nghĩa rộng nhất, trí tuệ được hiểu là năng lực tinh thần để nhận thức về các mối liên heä và nhằm tìm ra các cách thức giải quyết vấn đề. Theo nghĩa hẹp, trí tuệ cũng còn được coi là khả năng sử dụng lý trí. Đã nói đến trí tuệ thì không thể thiếu được tri thức và tri thức gắn liền với thông tin. Tri thức vừa là tiền đề, vừa là cơ sở căn bản quyết định sự hình thành và phát triển của trí tuệ. Nhất là hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hoá, người ta đang đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của tri thức trong “nền kinh tế tri thức”.
Sáng tạo là một đặc trưng quan trọng nhất của trí tuệ. Sáng tạo được hiểu là sự vượt thoát khỏi cái cũ, lỗi thời, khám phá ra cái mới trên cơ sở kế thừa, bổ sung và phát triển những tri thức cũ, những kinh nghiệm mà chủ thể đã tích luỹ được. Trí tuệ không chỉ dừng lại ở năng lực tư duy, tích luỹ tri thức, mà còn phải có sự sáng tạo, phát hiện cái mới. Vì vaäy, có thể nói khái niệm “trí tuệ” bao hàm bốn yếu toá gắn bó chặt chẽ với nhau: năng lực tư duy, tri thức tích luỹ được, sự sáng tạo cái mới và vận dụng các yếu tố đó vào thực tế (1). Trí tuệ phải biến thành năng lực thực tiễn giải quyết vấn đề một cách phù hợp, linh hoạt và sáng tạo.

Theo quan điểm Mácxít

Theo quan điểm Mácxít, trí tuệ con người được hình thành và phát triển từ việc cải tạo thế giới tự nhiên thông qua hoạt động thực tiễn. Qua quá trình hoạt động thực tiễn, đặc biệt là quá trình lao động sản xuất, thế giới được phản ánh vào bộ não người và trở thành nguồn cung c ấp nguyên liệu cần thiết, vô tận cho sự hình thành và phát triển của trí tuệ. Song, sự phản ánh đó không phải là nhất thời, giản đơn, thụ động và máy móc, mà là một quá trình phức tạp của hoạt động trí tuệ tích cực và sáng tạo.

Theo đó, có tác giả đưa ra “định nghĩa khái quát” từ góc độ triết học về trí tuệ như sau: “Trí tuệ là sản phẩm sáng tạo về tinh thần của con người, thể hiện qua việc huy động có hiệu quả lượng tri thức tích luỹ vào quá trình sáng tạo cái mới, nhằm cải biến tự nhiên, xã hội và bản thaân con người trong sự phát triển ngày càng tiến bộ, văn minh” (2). Đồng thời, tác giả này coi trí tuệ là một trong các hình thức hoạt động tinh thần của con người, nó thuộc phạm trù ý thức và là sự kết tinh của ý thức ô trình độ cao – chủ yếu là trình độ nhận thức lý tính (cao nhất là nhận thức bản chất, quy luật vaän động và phát triển của sự vaät) nên nó cũng có những đặc tính chung của ý thức (3). Cũng giống như ý thức, mọi quá trình trí tuệ xảy ra trong con người tất yếu phải có một cơ sở vật chất tương ứng và đó chính là bộ não con người – một dạng vật chất phát triển cao nhất, tinh vi nhất và là cơ quan vật chất của trí tuệ. Vì vậy, có tác giả lại không ngần ngại khaúng định, trí tuệ chính là bộ óc biết tư duy và đang tư duy của con người (4).

Theo chúng tôi, các tác giả trên vẫn chưa làm rõ được sự khác biệt rạch ròi giữa trí tuệ, tinh thần, ý thức và tư duy, nhất là giữa trí tuệ và ý thức, từ đó dẫn tới việc coi c ấu trúc của trí tuệ không khác gì m ấy so với cấu trúc của ý thức: cũng gồm tri thức, tình cảm (hay cảm xúc), niềm tin, lý tưởng, ý chí… Trong khi đó, ở phương Taây, đã có rất nhiều lý thuyết nghiên cứu theo hướng tìm kiếm, xác định và “mổ xẻ” các yếu toá của trí tuệ để từ đó xem xét các ảnh hưởng của chúng tới trí tuệ và tới nguồn lực trí tuệ của con người (5). Với lý do đó, trong bài viết này, chúng tôi muốn điểm qua một số lý thuyết hướng tới phaân tích các yếu tố của trí tuệ một cách cụ thể hôn.

Lý thuyết hai yếu tố của Spearman là gì?

Lý thuyết hai yếu tố của Spearman
Charles Spearman xây dựng lý thuyết về trí tuệ bao gồm hai yếu tố là yếu tố trung tâm (g – factor; g=general) và các yếu tố đặc thù (s – factors; s=specific). Yếu tố – g bao trùm toàn bộ trí tuệ nói chung và có tính chất quyết định, đặc biệt là đối với tốc độ xử lý thông tin, tiềm năng tinh thần và năng lực trí tuệ. Nói tóm lại, nó là cái cho ta biết một cá nhaân có năng lực trí tuệ bình thường hay cá nhân ấy là một “thiên tài”. Bên cạnh yếu tố g này, Spearman còn trừu tượng hoá một loạt các yếu tố trí tuệ đặc thù khác và gọi chúng là các yếu tố s. Chúng là các yếu tố không phụ thuộc lẫn nhau và đều có vai trò thấp hơn yếu tố g, đều bị yếu toá g chi phoái. Chúng quyết định đến năng lực trí tuệ của cá nhân trong từng lĩnh vực xác định, ví dụ như năng lực giải các bài tập toán hoặc khả năng (nắm bắt) không gian.

Lý thuyết hai yếu tố của Cattell là gì ?

Lý thuyết hai yếu tố của Cattell
Raymond Bernard Cattell gọi hai yếu tố của trí tuệ là trí tuệ “mềm” và trí tuệ “kết tinh”. Trí tuệ “mềm” là bẩm sinh, có tính di truyền và không bị tác động bởi môi trường; chẳng hạn như tiềm năng tinh thần, khả năng bao quát, trình độ xử lý thông tin nói chung.

Theo ông, trí tuệ “mềm” có chức năng phân tích các nhiệm vụ và các khả năng như tư duy lôgích và việc tạo ra, sử dụng các tổ hợp cũng thuộc về nó. Trí tuệ “mềm” quyết định trước hết tới khả năng thích ứng với các vấn đề mới và các tình huống mới. Trí tuệ “kết tinh” bao hàm toàn bộ những khả năng, những năng lực mà con người học được trong toàn bộ cuộc đời và bị quy định bởi môi trường bên ngoài, do vậy giáo dục, đào tạo và văn hoá là những nhân tố chủ choát tạo nên nội dung của loại hình trí tuệ này. Dó nhiên là trí tuệ “kết tinh” cũng bị quy định bởi trí tuệ “mềm” và hai loại trí tuệ này tồn tại trong mối liên hệ maät thiết, không tách rời nhau. Do vậy, có thể nói trí tuệ “kết tinh” là “sản phẩm” do trí tuệ “mềm” và giáo dục, đào tạo cùng nhau “sản xuất” ra. Ngoài ra, Cattell còn cho rằng, trí tuệ “kết tinh” phát triển chủ yếu từ năm 18 đến năm 20 tuổi, nhưng cũng có thể kéo dài cho tới tận năm 50 tuổi.

Mô hình các yếu tố ưu trội của Thurstone Louis Leon Thurstone bác bỏ lý thuyết cho rằng có yếu tố trung tâm nằm trên các yếu toá khác của trí tuệ. Ông nhấn mạnh tới các lĩnh vực đặc thù, ưu trội ngang nhau của trí tuệ và coi trí tuệ là sự kết hợp các yếu tố khác nhau đó một cách hữu cơ lại với nhau. Theo đó, Thurstone đưa ra 7 yếu toá ưu trội sau đây:
1) Khả năng nắm bắt không gian; 2) Năng lực tính toán; 3) Hiểu ngôn ngữ; 4) Khả năng nói, diễn đạt trôi chảy; 5) Trí nhớ; 6) Tốc độ tri giác và 7) Tư duy lôgích.

Mô hình cấu trúc trí tuệ của Jaeger

Mô hình cấu trúc trí tuệ của Jaeger
Mô hình này được Adolf Otto Jaeger xaây dựng năm 1984 tại Berlin nên nó còn được gọi tắt là mô hình Berlin. Jaeger dưa ra 7 bộ phận chủ yếu của trí tuệ như sau:

1. Tốc độ xử lý (tốc độ làm việc, khả năng taäp trung và nắm bắt khi giải quyết những vấn đề đơn giản và có độ khó th ấp)
2. Khả năng nhớ (có thể khôi phục lại nhanh chóng những tác động về phương diện từ ngữ, soá liệu và biểu tượng)
3. Trí tưởng tượng phong phú (có thể sản sinh rất nhiều ý tưởng khác nhau và sử dụng rất nhiều thông tin, có thể thấy được các mặt khác nhau, các khả năng và nguyên nhân khác nhau của đối tượng)
4. Khả năng xử lý bậc cao (đối với các tổ hợp thông tin, các nhiệm vụ có mối quan hệ đa dạng, phức tạp, tư duy lôgích hình thức và khả năng phán đoán hợp lý)
5. Tư duy gắn liền với ngôn ngữ (tương ứng với trình độ sử dụng ngôn ngữ)
6. Tư duy liên quan đến con số (khả năng tính toán hoaëc nhớ các con soá)
7. Tư duy bằng trực quan (liên quan tới các hình tượng, biểu tượng)

Theo Jaeger, trí tuệ nói chung phải bao gồm 7 bộ phaän chủ yếu trên, nhưng đây không phải là những yếu toá cuối cùng mà chỉ đóng vai trò là “hạt nhân” của mô hình trí tuệ và do vậy, trong tưông lai có thể và cần phải bổ sung tiếp tục các yếu tố khác vào mô hình này.
Tuy vậy, các nhà nghiên cứu theo “lý thuyết về quá trình thông tin” lại vứt bỏ ý tưởng về các yếu toá cơ bản của trí tuệ có trong các mô hình lý thuyết của các tác giả mà chúng tôi đã trình bày ở trên. Ở đây, những người này lại quan tâm chủ yếu đến các quá trình tiếp nhận và xử lý thông tin. Về cơ bản, họ hướng đến ba caâu hỏi sau:
– Có các quá trình tiếp nhận loại nào?
– Quá trình đó diễn ra như thế nào?
– Nó dựa trên cơ sở tâm thần nào? (chẳng hạn như người đó nghĩ bằng hình ảnh hay bằng các con soá trừu tượng).

Mô hình ba lý thuyết về trí tuệ của Sternberg là gì?

Mô hình ba lý thuyết về trí tuệ của Sternberg
Một trong những đại biểu rất quan trọng của trường phái “lý thuyết về quá trình thông tin” này là Robert Sternberg. Ông đưa ra mô hình ba lý thuyết về trí tuệ như sau:

1. Lý thuyết bối cảnh: Mỗi một người đều sở hữu trí tuệ liên quan tới đặc thù văn hoá và đặc thù môi trường. Chính loại trí tuệ này là cái làm cho con người có khả năng hoà hợp với môi trường sống, nhờ nó họ mới có thể tạo dựng và gìn giữ các mối quan hệ xã hội hoặc ít nhiều mới có thể tuân theo được các chuẩn mực văn hoá.
2. Lý thuyết kép: Điều quan trọng đối với nghiên cứu về trí tuệ không chỉ là việc nắm bắt được các quá trình giải quyết vấn đề và kết quả của chúng, mà điều quan trọng nữa là phải nắm bắt được “tiến trình tự động” diễn ra của quá trình này vì nó cũng có ảnh hưởng hết sức quan trọng đối với kết quả của một “chiến lược giải quyết vấn đề” nào đó.
3. Lý thuyết (về) các bộ phaän: Sternberg phaân biệt 5 bộ phận chính của quá trình tiếp nhận thông tin (bao gồm: a. Khả năng đặc thù trong từng trường hợp cụ thể; b. Năng lực kiểm tra; c. Khả năng lưu giữ trong trí nhớ; d. Khả năng “l ấy ra” thông tin từ trí nhớ. Năng lực chuyển giao thông tin).

Một trong những đóng góp quan trọng của Sternberg chính là việc mở rộng khái niệm trí tuệ. Theo đó, trí tuệ bao hàm việc học tập từ kinh nghiệm, năng lực suy lý trừu tượng, khả năng thích ứng với moi trường đang thường xuyên biến đổi, phát triển và là động cơ thúc đẩy (con người) đạt tới tri thức mới và năng lực mới nói chung.

Lý thuyết trí tuệ đa bội theo quan niệm của Gardner

Lý thuyết trí tuệ đa bội theo quan niệm của Gardner cho rằng chúng ta không sở hữu một trí tuệ mà sở hữu rất nhiều trí tuệ tồn tại không phụ thuộc lẫn nhau và từ quan niệm này, ông đưa ra lý thuyết về trí tuệ đa bội. Mỗi một trí tuệ do một “khu vực” độc lập trên não “phụ trách” và các khu vực này hoạt động một cách độc lập với nhau và do vậy, khi một loại trí tuệ bị tổn thưông thì điều đó cũng không gaây ra ảnh hưởng gì tới các loại trí tuệ khác.

Ngoài ra, Gardner còn phân định hai lĩnh vực của trí tuệ: lĩnh vực trí tuệ cá nhân (bao gồm những tri thức về bản thân mình, sự chú giải về những tình cảm và cách thức ứng xử của cá nhaân…) và lĩnh vực trí tuệ liên cá nhân (liên quan tới tri thức về sự ứng xử giữa các cá nhân với nhau, hay những phán đoán, phỏng đoán về những ứng xử của các cá nhân khác để từ đó, có cách thức ứng xử phù hợp…).
Tuy nhiên, lý thuyết trí tuệ đa bội của Gardner vấp phải nhiều sự chỉ trích, chaúng hạn như Detlef Rost đã phê phán lý thuyết này là chưa có đủ các kết quả nghiên cứu khoa học chứng thực.

Qua phần trình bày trên, chúng ta thấy vẫn còn có rất nhiều mô hình lý thuyết và nhiều ý kiến khác nhau về trí tuệ – cái hiện chỉ có ở con người và thể hiện đặc trưng, “sức mạnh” người. Và có thể khaúng định rằng, trong thời đại chúng ta, cuộc cạnh tranh khốc liệt đang diễn ra giữa các cường quốc và giữa các quốc gia trong cộng đồng thế giới về thực chất cũng là cuộc cạnh tranh về trí tuệ. Vì vậy, để tiến hành thành cơng sự nghiệp cơng nghiệp hoá, hiện đại hoá, để không bị tụt hậu xa hơn về kinh tế, chúng ta phải nhanh chóng naâng cao năng lực trí tuệ, trình độ học vấn, kỹ năng và trình độ nghề nghiệp cho người lao động, nhất là đội ngũ lao động chất xám, phát huy tiềm năng trí tuệ của cả daân tộc.
Thiết nghĩ, để cho nguồn nhân lực nói chung, nguồn lực trí tuệ nói riêng phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội và trở thành động lực thì phải kích thích nó (trước hết thông qua khaâu cơ bản là nhu cầu và lợi ích) và phải tạo được một môi trường thuận lợi nhất (dân chủ, tự do, cơng bằng) cho các cá nhaân và cho cả cộng đồng sáng tạo, cống hiến được ở mức cao nhất.

TÀI LIỆU KINH TẾ PDF MIỄN PHÍ: TÀI LIỆU NGUỒN NHÂN LỰC PDF

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

This site uses cookies. By browsing this website, you agree to our use of cookies. Visit our Privacy Policy

Login  |   Register New

Advertisement

Login  |   Register New

Advertisement